Cảm nhận về bài thơ Thương Vợ

Đề bài: Cảm nhận về bài thơ Thương Vợ

Bài làm

Loading...

 Cảm nhận về bài thơ Thương Vợ – “Trọng nam khinh nữ” vốn là tư tưởng hạn chế đã ăn sâu trong tiềm thức của người dân thời phong kiến, vì vậy mà rất ít tác phẩm văn học xưa đề cập hay tôn vinh người phụ nữ. Một trong số những tác phẩm ít ỏi ấy là bài thơ “Thương vợ” của Trần Tế Xương, bài thơ là lòng biết ơn, ca ngợi sự đảm đang, tần tảo của vị tú tài đối với người vợ thân yêu của mình.

“Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng”

Hai câu mở đầu là lời chấm công của Tú Xương dành cho vợ. Câu thơ đầu tiên nói về công việc và tính chất công việc của bà Tú. Buôn bán bản thân nó không phải là công việc mới lạ hay quá mệt nhọc nhưng “quanh năm” và “mom sông” thì công việc ấy lại mang một tính chất khác. “Mom sông” là phần đất trên bờ nhưng ngay sát dòng nước, rất dễ sụt đổ, ấy vậy mà bà Tú quanh năm phải ngồi nơi địa thế nguy hiểm ấy buôn bán, bất kể ngày mưa hay nắng để mà “Nuôi đủ năm con với một chồng”. Trong thời phong kiến, người đàn ông được coi là trụ cột kinh tế của cả gia đình, nhiệm vụ của người phụ nữ là ở nhà chăm sóc gia đình, ấy vậy mà trong gia đình Tú Xương, trách nhiệm ấy bị đảo ngược khi mà bà Tú mới là trụ cột kinh tế chính của gia đình. Không như nhiều người đàn ông có thói gia trưởng khác trong quá khứ, Tú Xương đã tự hạ mình xuống ngang hàng với các con, ông thấy mình cũng là một gánh nặng cho vợ trong gia đình. Cách nói ấy vừa là sự mỉa mai của tác giả dành cho chính mình vừa là sự biết ơn sâu sắc với người vợ tào khang.

Cảm nhận về bài thơ Thương Vợ

Cảm nhận về bài thơ Thương Vợ

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng

 Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

Hai câu thơ tiếp theo này Tú Xương đã miêu tả cái sự vất vả, gian nan của vợ, qua đó mà thể hiện tình thương vợ của mình. Hình ảnh con cò vốn vẫn là biểu tượng cho những người phụ nữ, người vợ tảo tần, kết hợp với phép đảo ngữ Tú Xương đã nhấn mạnh sự vất vả, lam lũ của vợ. Khi vắng người thì “lặn lội” là vậy nhưng khi bến đông người tình cảnh bà Tú cũng không khá hơn khi bên tai là những tiếng “eo sèo” của mọi người trong phiên chợ. Vì tính kế sinh nhai nuôi cả gia đình mà bà phải cam chịu số phận bị tranh giành, xô đẩy, phải làm việc mà không hợp với thân phận của mình chút nào. Một người con gái trong xã hội phong kiến vẫn được dạy rằng không nên xuất đầu lộ diện ở nơi đông người, vậy mà bà Tú vì kế sinh nhai lo cho gia đình mà phải bỏ qua lời dạy bảo ấy, ngày ngày tiếp xúc với phong trần nhân gian.

Nếu bốn câu đầu là góc nhìn khách quan của Tú Xương về nỗi cơ cực của vợ mình thì bốn câu sau này là những lời than thân trách phận mà ông nói thay vợ mình:

“Một duyên hai nợ âu đành phận

Năm nắng mười mưa dám quản công

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc

Có chồng hờ hững cũng như không.”

Hai con người quen biết nhau và thành vợ thành chồng với nhau là bởi duyên số, ấy thế nhưng với bà Tú thì việc lấy ông Tú là “một duyên hai nợ”, duyên thì ít mà nợ thì nhiều. Người ta vẫn nói đời người con gái lấy chồng như đánh bạc, may mắn thì được một tấm chồng tốt còn không thì ngược lại, ở đây có lẽ bà Tú rơi vào trường hợp “không may” ấy. Nhưng “âu đành phận”, ông trời đã sắp xếp cho bà vậy rồi nên than vãn cũng chẳng thể thay đổi được điều chi. Vì vậy mà bà “Năm nắng mười mưa dám quản công”, dù công việc có mệt nhọc, lam lũ đến nhường nào đi chăng nữa thì bà cũng chẳng lấy đó mà lên mặt với chồng, vẫn nhẫn nhịn và âm thầm hi sinh, toát lên vẻ đẹp của một đức tính truyền thống quý báu của những người phụ nữ xưa.

Bài chấm công của Trần Tế Xương khép lại bằng một lời chửi rủa:

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc

 Có chồng hờ hững cũng như không!”

Mượn danh nghĩa vợ, tác giả đã tự chửi rủa chính mình, chửi cái thói bạc bẽo và vô tích sự của chính mình, dù đỗ được danh tú tài nhưng cũng chẳng thể đỡ đần gì cho vợ con. Trong xã hội phong kiến, một người phụ nữ khi xuất giá về nhà chồng thì nghiễm nhiên nhiệm vụ trụ cột kinh tế  sẽ do người chồng gánh vác, ấy vậy mà bà Tú dù đã thành vợ ông Tú nhưng không được an nhàn mà lại càng vất vả hơn khi phải lam lũ lo cho cả gia đình, không chỉ các con mà còn cả ông chồng của mình nữa. Bà than “Có chồng hờ hững cũng như không”, chồng đã chẳng giúp được gì cho vợ mà trái lại lại trở thành gánh nặng, đè lên đôi vai nhỏ bé. Câu chửi nhưng cũng chính là sự xót thương, biết ơn vợ sâu sắc của vị tú tài họ Trần.

“Thương vợ” là những dòng thơ thể hiện sự lam lũ, vất vả để bươn chải kiếm sống của bà Tú, qua đó thể hiện tình cảm biết ơn vợ sâu sắc của Trần Tế Xương và rộng ra hơn nữa là ca ngợi tất cả những người phụ nữ Việt Nam xưa tảo tần lo cho gia đình mà chẳng được một ai công nhận, biết ơn.

Anh Vân

Đánh giá bài viết

Ứng dụng VĂN MẪU TỔNG HỢP trên điện thoại với hơn 30k bài văn mẫu hay nhất, giải bài tập SGK, soạn văn đầy đủ chi tiết. Hãy tải App ngay để chúng tôi phục vụ bạn tốt hơn nhé!

Nếu thấy bài viết hay, hãy động viên và chia sẻ ban biên tập! Các bình luận không phù hợp sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.

Loading...

Add a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *