Cảm nhận bài thơ Thương vợ

Đề bài: Cảm nhận bài thơ Thương Vợ

Bài làm

Loading...

Tú Xương là nhà thơ trào phúng nổi bật trong làng thơ Việt Nam. Ông có rất nhiều tác phẩm thơ hay và nổi tiếng, trong số đó không thể không kể đến bài thơ Thương Vợ. Bài thơ mang nhiều giá trị trào phúng sâu sắc cùng với nội dung là sự vất vả đảm đang của người phụ nữ trong xã hội cũ, điều đó đã làm cho Thương Vợ có dấu ấn riêng độc đáo trong kho tàng văn học Việt.

Bài thơ Thương Vợ được viết theo kết cấu đề thực luận kết, thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Có thể nói Thương Vợ là lời tri ân sâu sắc của nhà thơ Tú Xương dành cho người vợ lam lũ của mình. Ở hai câu đề đầu tiên, hình ảnh bà Tú hiện ra đại diện cho lớp người phụ nữ thời bấy giờ, với đức tính chịu  thương chịu khó, đảm đang thương chồng con và giàu đức hy sinh:

Quanh năm buôn bán ở mom sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng.

Cảm nhận bài thơ Thương vợ

Cảm nhận bài thơ Thương Vợ

Đó là nỗi vất vả gắn liền với sứ mệnh kiếm sống mưu sinh của một người phụ nữ. Nỗi vất vả ấy kéo dài từ ngày này sang ngày khác không ngơi nghỉ “quanh năm”. Trong một gia đình người Việt, đã từ lâu người chồng, người cha là trụ cột của gia đình, là người mạnh mẽ che chở và nuôi nấng gia đình. Thế nhưng gia đình Tú Xương dường như đã hoàn toàn phá vỡ đi quy luật ấy. Trụ cột của gia đình là bà Tú, là một người phụ nữ. Bà làm việc không kể nắng mưa ở mom sông – nơi mỏm đất chênh vênh nhô ra bờ sông rất nguy hiểm. Bà Tú mang trong mình gánh nặng và trách nhiệm nuôi gia đình cao cả “Nuôi đủ năm con với một chồng”. Dường như Tú Xương cũng coi mình như một đứa con “lớn” cần phải nuôi, một đứa con “lớn” bằng năm đứa con nhỏ. Cuộc sống của cả gia đình như đổ hết lên đôi vai gầy của bà Tú. Qua công việc của bà và cách đếm chồng đếm con, Tú Xương đã vẽ ra bức chân dung người vợ của mình: một người phụ nữ đảm đang tần tảo, chăm chỉ chịu khó và giàu đức hy sinh.

 Lặn lội thân cò khi quãng vắng,

Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

Bà Tú vất vả đến hao gầy, đến nỗi Tú Xương gọi vợ mình là “thân cò”. Bà phải làm việc từ rất sớm, khi cả đất trời vẫn còn trong “quãng vắng” hay “đò đông”. Từ xưa hình ảnh con cò thường đại diện cho những người có số phận nghèo khổ, bất hạnh và cơ cực. Việc đảo từ láy lên đầu câu một cách độc đáo đã khắc họa rõ hơn nỗi vất vả của bà Tú. Khi vắng vẻ, bà không quản ngại khó khăn nguy hiểm, khi đông người, bà phải chịu đựng những tiếng “eo sèo”. Khó khăn chồng chất khó khăn, ngày qua ngày bà chịu đựng cơ cực như một thói quen vậy. Hai câu thơ trên như thể tiếng xót xa của Tú Xương, ông đã thấu hiểu và xót thương cho người vợ của mình.

Một duyên, hai nợ, âu đành phận,

Năm nắng, mười mưa, dám quản công.

Chỉ có một cái duyên với chồng mà phải chịu đến hai cái nợ, thế nhưng bà Tú vẫn không hề kêu ca buông bỏ mà vẫn chấp nhận như thể đó là số phận định sẵn của mình. Dẫu cho công việc hàng ngày có đến “năm nắng, mười mưa” thì bà vẫn không quản ngại gian khó “dám quản công”. Bà chấp nhận hy sinh tất cả để cho gia đình mình được êm ấm như bản năng vốn có của người phụ nữ mà không hề nghĩ đến bản thân mình. Hai câu thơ giúp ta thêm khâm phục nhân cách cao cả của bà cùng với những phẩm chất đáng quý: lòng yêu thương chồng con và đức hy sinh. Giọng điệu thơ trầm lại, trầm xuống thể hiện nỗi ăn năn khi không thể đỡ đần cho vợ, sự xót xa cho người vợ cực nhọc của nhà thơ. Qua đó ta cũng thấy tình cảm của Tú Xương dành cho vợ thật chân thành biết nhường nào!

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc:

Có chồng hờ hững cũng như không!

Nếu như xuyên suốt sáu câu đầu, nhà thơ vẽ nên bức chân dung người vợ đảm đang chịu khó và hết mực yêu thương chồng con thì trong hai câu thơ cuối này, Tú Xương như thể thay vợ mình cất lên tiếng chửi. Chỉ hai câu mà nhà thơ đã nói lên hết thảy nỗi niềm chung của những người phụ nữ thời bấy giờ. Từ “thói đời” đã làm sáng tỏ hết sự bất công trong xã hội đối với người phụ nữ: người chồng đèn sách theo đuổi con chữ, cha mẹ đưa con về nhà chồng rồi thì coi con như bát nước đổ đi, mặc kệ không quan tâm. Tất thảy điều ấy đã đẩy người phụ nữ vào hoàn cảnh lam lũ, một thân chèo chống nhà chồng, gánh vác nỗi cơ cực trên vai. Nhà thơ cũng quay sang chửi chính mình là một người chồng hờ hững khi không giúp được gì cho vợ mà còn ăn bám thêm. Thế nhưng ta thấy, ông không hề hờ hững mà biết trân trọng, yêu thương và thương vợ rất nhiều. Ông tự lên án mình và xã hội, ông kính trọng và thấu hiểu vợ khi phát hiện ra những nhân cách cao đẹp ấy.

Có thể nói bài thơ Thương Vợ là lời nhà thơ Tú Xương thay vợ mình lên án xã hội với những định kiến bất công, đẩy người phụ nữ vào số phận nghèo khổ cơ cực. Ông viết một bài thơ về vợ mình bằng tất cả sự yêu thương, trân trọng và tri ân đến bà Tú. Qua nhân vật bà Tú ta đã có cái nhìn tiến bộ hơn về thân phận những người phụ nữ trong xã hội cũ cùng những phẩm chất cao đẹp của họ. Chắc hẳn Thương Vợ cùng lời thơ trào phúng hài hước là món quà đẹp nhất mà bà Tú nhận được từ người chồng thi sĩ của mình.

Thảo Trân

Cảm nhận bài thơ Thương vợ
Đánh giá bài viết
Loading...

Add a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *